Chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế download idm free
9 10

Chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế

BRANDCO LAWFIRM – Công ty Luật Brandco là một đơn vị có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực xác lập và bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Luật Brandco giới thiệu đến quý khách hàng về chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế theo luật sở hữu trí tuệ

Cục Sở hữu trí tuệ giải đáp pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

 

1. Về quy định chi tiết cách xác định tiền làm lợi do sử dụng sáng chế, cách định giá tài sản trí tuệ và việc hạch toán chi phí liên quan đến sở hữu công nghiệp.

Đến nay, chưa có văn bản nào được ban hành hướng dẫn cách xác định tiền làm lợi do sử dụng sáng chế và hướng dẫn cách định giá tài sản trí tuệ và việc hạch toán chi phí liên quan đến sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 18 và Điều 32 của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, đã có các văn bản khác quy định chi tiết đối với những vấn đề này:

(i) Quy định về cách xác định tiền làm lợi do áp dụng sáng chế:

Tiền làm lợi do áp dụng sáng chế trước đây được quy định tại Mục A Phần II Thông tư liên bộ số 99/TC-KHCNMT ngày 02/12/1993 của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn quản lý thu chi tài chính trong hoạt động sáng kiến và sở hữu công nghiệp (xem bản trích sao kèm theo). Quy định nêu trên đến nay chưa có văn bản thay thế, vì vậy, có thể tiếp tục áp dụng cho đến khi có quy định hướng dẫn thi hành theo khoản 4 Điều 18 của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tiền làm lợi do áp dụng sáng chế là căn cứ để xác định tiền thù lao mà chủ sở hữu sáng chế phải trả cho tác giả sáng chế (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 135 của Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 18 của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP). Nghĩa vụ này không phát sinh trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế đồng thời là tác giả sáng chế (như trường hợp các sáng chế được bảo hộ theo các Bằng độc quyền sáng chế số 178 và số 4414 của ông Phan Đức Tác).

(ii) Quy định về cách định giá tài sản trí tuệ:

Việc định giá tài sản trí tuệ phải tuân thủ quy định của Pháp lệnh Giá: Về nguyên tắc, Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh theo đúng pháp luật (khoản 1 Điều 2). Tuy nhiên, những tài sản được mua toàn bộ hoặc một phần bằng nguồn ngân sách nhà nước là loại tài sản của Nhà nước phải thẩm định giá (điểm a khoản 1 Điều 13).

Việc định giá tài sản trí tuệ được thực hiện theo quy định của Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8/2005 của Chính phủ về thẩm định giá, theo đó, tài sản trí tuệ có thể được thẩm định giá bởi các doanh nghiệp thẩm định giá chuyên nghiệp, được thành lập và hoạt động theo quy định. Tùy theo tính chất, đặc điểm của tài sản cần định giá, tùy theo điều kiện và tính chất thông tin thị trường mà thẩm định viên có thể lựa chọn các phương thức phù hợp để định giá tài sản trí tuệ theo quy định tại Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP về thẩm định giá. Kết quả thẩm định giá đối với tài sản của doanh nghiệp (kể cả tài sản trí tuệ) là một trong những căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt chi từ ngân sáng nhà nước, tính thuế, xác định giá trị tài sản đảm bảo vay vốn ngân hàng, mua bảo hiểm, cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn, cổ phần hóa, giải thể doanh nghiệp và sử dụng vào các mục đích khác ghi trong hợp đồng thẩm định giá (khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 101/2005/NĐ-CP).

Các phương thức thẩm định giá theo các quy định nêu trên cũng thích hợp đối với việc định giá tài sản trí tuệ.

(iii) Quy định về cách hạch toán chi phí liên quan đến sở hữu công nghiệp:

Có một số văn bản quy định về kế toán doanh nghiệp, trong đó có các điều khoản đối với tài sản vô hình, như Thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 hướng dẫn kế toán thực hiện 6 chuẩn mực kế toán ban hành kèm theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thông tư số 203/2009/Tr-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.

Đề nghị quý Công ty tham vấn ý kiến của Bộ Tài chính để hiểu đúng về các quy định nêu trên và tìm hiểu đầy đủ hơn về 03 vấn đề này.

2. Về căn cứ pháp luật để thỏa thuận giá thanh toán trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế hoặc hợp đồng chuyển giao công nghệ

Việc thỏa thuận giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng dựa trên các căn cứ sau đây:

(i) Quy định chung:

Pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ cũng như về chuyển giao công nghệ không quy định khung giá đối với giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng. Các bên ký kết hợp đồng được tự do thỏa thuận về mức giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Điều 22 của Luật Chuyển giao công nghệ và khoản 1 Điều 30 của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ quy định các bên trong hợp đồng chuyển giao công nghệ tự thỏa thuận về giá công nghệ được chuyển giao. Quy định này thay thế quy định về khung giá chuyển giao công nghệ trước đây tại Điều 23 của Nghị định số 45/1998/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ, nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Theo nguyên tắc tự thỏa thuận, các bên ký kết hợp đồng hoàn toàn có thể tham khảo bất kỳ khung giá nào mà mình cho là hợp lý. Giá đền bù cho chủ sáng chế trong trường hợp quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 24 của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP là mức đền bù “thỏa đáng” cho chủ sở hữu sáng chế (điểm d khoản 1 Điều 146 của Luật Sở hữu trí tuệ). Vì vậy, các bên ký kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế nên tham khảo để xác định và thỏa thuận với nhau về mức giá chuyển giao. Cụ thể, theo quy định đó, giá đền bù không được vượt quá 5% giá bán tịnh của sản phẩm được sản xuất theo sáng chế và phải được xác định theo giá trị kinh tế của quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao, trên cơ sở xem xét các yếu tố sau đây:

- Giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng;

- Kinh phí đầu tư để tạo ra sáng chế, trong đó phải xem xét đến phần kinh phí được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (nếu có);

- Lợi nhuận thu được do sử dụng sáng chế;

- Thời gian hiệu lực còn lại của văn bằng bảo hộ;

- Mức độ cần thiết của việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế;

- Các yếu tố khác trực tiếp quyết định giá trị kinh tế của quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao.

(ii) Quy định đối với hợp đồng được thanh toán từ nguồn ngân sách nhà nước:

Đối với hợp đồng mà giá chuyển giao công nghệ được thanh toán từ nguồn ngân sách nhà nước thì việc thỏa thuận giá giữa các bên phải tuân thủ các quy định sau đây:

- Bên nhận công nghệ phải lập phương án nhận chuyển giao công nghệ, trong đó nêu rõ nội dung chuyển giao công nghệ và giá ước tính của công nghệ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định (Điều 4 của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP);

- Giá chuyển giao phải thẩm định theo quy định của Pháp lệnh Giá như đã nêu tại điểm 1 (ii) của công văn này;

- Các quy định, hướng dẫn của các Bộ, ngành hữu quan, ví dụ:

Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ nằm trong chi phí thiết bị và được xác định bằng lập dự toán hoặc dự tính tùy theo yêu cầu cụ thể của từng công trình. (theo quy định tại Điểm 2.2 của Thông tư số 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 của Bộ Xây dựng hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình);

Đơn vị tư vấn thiết kế phải tính toán, xác định giá trị chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, đưa vào dự toán chi phí thiết kế trong Tổng dự toán công trình xây dựng. Trường hợp đấu thầu tư vấn thì nhà thầu tư vấn phải tính đủ giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế vào trong giá dự thầu và có trách nhiệm thanh toán cho chủ sở hữu sáng chế nếu trúng thầu. Đơn vị tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm ký hợp đồng và thanh toán với chủ sở hữu sáng chế tùy thuộc vào thỏa thuận với chủ sáng chế trên nguyên tắc mức chi trả phải phù hợp với mức độ và phạm vi áp dụng sáng chế, đồng thời không vượt chi phí thiết kế công trình trong tổng dự toán được duyệt... (Công văn số 2892/BNN-XD ngày 03/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn nguyên tắc xác định mức chi và thanh toán cho việc sử dụng sáng chế, bản sao kèm theo).

Như vậy, sau khi đạt thỏa thuận về giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phù hợp với quy định chung nêu tại điểm (i) trên đây và phù hợp với các quy định đối với hợp đồng được thanh toán từ nguồn ngân sách nhà nước nêu tại mục (ii) này, Bên nhận công nghệ phải thuê doanh nghiệp thẩm định giá theo Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính (như đã nêu tại điểm (ii) Mục 1 của công văn này) trước khi trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3. Về thẩm quyền ban bành quyết định bắt buộc chuyển giao sáng chế

Cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế) do Luật Sở hữu trí tuệ quy định, cụ thể như sau:

- Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước đối với lĩnh vực mà sáng chế được sử dụng ban hành quyết định trong trường hợp sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội (khoản 1 Điều 133 và khoản 2 Điều 147); hoặc

- Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định trong các trường hợp khác (khoản 1 Điều 147).

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có thẩm quyền ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Luật Chuyển giao công nghệ nói chung và Điều 54 của Luật đó nói riêng không quy định về thẩm quyền này.

4. Về định mức đơn giá sở hữu trí tuệ và công nghệ trong các công trình, dự án xây dựng cơ bản phòng chống thiên tai của các Bộ, ngành

Pháp luật sở hữu trí tuệ không quy định về định mức đơn giá sở hữu trí tuệ. Để biết thực tế có quy định về định mức đơn giá sở hữu trí tuệ trong các công trình, dự án xây dựng cơ bản phòng chống thiên tai của các Bộ, ngành hay không, đề nghị quý Công ty tham vấn ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

5. Về chính sách khuyến khích và đãi ngộ của Nhà nước đối với các sáng chế được sử dụng rộng rãi, mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia

Các chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng (khoản 2 và khoản 3 Điều 8). Các chính sách này được Chính phủ thực hiện bằng nhiều biện pháp, điển hình là Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 68/2006/QĐ-TTg. Thực tế, có một số sáng chế có khả năng mang lại lợi ích cho xã hội đã được hỗ trợ triển khai áp dụng trong khuôn khổ Chương trình này, trong đó có Dự án “Áp dụng sáng chế về công nghệ kè bờ trên nền đất mềm yếu khu vực đồng bằng sông Cửu Long” của ông Phan Đức Tác. Nhiều chính quyền địa phương cũng có các chương trình, dự án tương tự.

Nhà nước còn có nhiều chính sách khác khuyến khích ứng dụng, đổi mới và chuyển giao công nghệ nói chung, trong đó có các sáng chế nói riêng, cụ thể:

- Chính sách hỗ trợ về đầu tư (khoản 1 Điều 40 của Luật Đầu tư, khoản 1 Điều 30 của Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư);

- Chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng (các điều 44 và 45 của Luật Chuyển giao công nghệ; các điều 42, 43 và 44 của Luật Khoa học và Công nghệ; các điều 41, 42 và 43 của Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ; Điều 32 của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ);

- Chính sách khuyến khích và khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có các phát minh, sáng chế, công trình khoa học hoặc các tác phẩm xuất sắc theo Luật Thi đua khen thưởng.

Pháp luật sở hữu trí tuệ không có quy định về tiền ngân sách nhà nước chi trả để nhận chuyển giao quyền sử dụng sáng chế nói chung và những sáng chế được sử dụng rộng rãi, mang lại lợi ích cho xã hội nói riêng. Để tìm hiểu thực tế có hay không tồn tại quy định, chính sách này trong các ngành khác nhau, quý Công ty cần tham vấn ý kiến của Bộ quản lý lĩnh vực mà sáng chế được sử dụng (ví dụ tham vấn ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với sáng chế được sử dụng trong lĩnh vực đê điều).

6. Về hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế số 178

Theo quy định tại khoản 3 Điều 220 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng như quy định của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung năm 2009, mọi quyền và nghĩa vụ theo văn bằng bảo hộ được cấp theo quy định của pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực 01/7/2006 được áp dụng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Vì vậy, từ ngày 01/7/2006, chủ Bằng độc quyền sáng chế số 178 (cấp ngày 08/4/1994 theo Quyết định số 118/QĐSC của Cục trưởng Cục Sở hữu công nghiệp) có quyền duy trì hiệu lực Bằng độc quyền theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn). Hiện tại, Bằng độc quyền đã được duy trì hiệu lực đến hết ngày 17/8/2011 và sẽ tiếp tục có hiệu lực đến ngày 17/8/2013 nếu chủ Bằng độc quyền sáng chế tiếp tục nộp lệ phí duy trì hiệu lực theo quy định.

Trên đây là ý kiến của Cục Sở hữu trí tuệ về chính sách và pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Quý Công ty cần tham vấn ý kiến của Bộ Tài chính về chính sách và pháp luật tài chính và tham vấn ý kiến của các Bộ hữu quan (Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...) về quy định, chính sách và thực tiễn trong các lĩnh vực mà sáng chế được sử dụng.

Theo  Tạp chí khoa học công nghệ

 

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Hãng Luật Brandco để được hướng dẫn chi tiết. 

 

----------------------------

HÃNG LUẬT BRANDCO – BRANDCO LAW FIRM

VĂN PHÒNG HÀ NỘI
Số 1201, Tòa nhà N2D, Khu đô thị Trung hòa – Nhân Chính, Hà Nội, Việt Nam
Tel: (844) 3556 3488 – 3556 3498 -  Fax: (844) 3556 3489 (máy lẻ 208)
Email: brandcovn@gmail.comcare@camnangphapluat.com

 

VĂN PHÒNG HẢI PHÒNG
Địa chỉ: Số 4A - Phố Phạm Bá Trực - quận Hồng Bàng - thành phố Hải phòng
Điện thoại:     (84031) 353 00 16 - hotline: 090.228.4446
Email:      brandcohp@gmail.com - brandcovn@gmail.com

 

 

  WEBSITE: www.camnangphapluat.com  - www.brandco.vn

www.congtyluat.orgwww.luatsuviet.orgwww.camnangphapluat.vn – www.thanhlapdoanhgnhiep.org - www.vanphongluatsu.org - www.chuyennhuongduan.net - www.luatsutuvan.org - www.hopdong.info - www.phapluat.biz - phapluatonline.net - www.vietnamlawfirm.net

[Trở về] [Đầu trang] In bài viết Gửi cho bạn bè

Các dịch vụ mới hơn:
Các dịch vụ khác:
Brandco với truyền thông

Get Flash to see this player.

Tư vấn qua SMS

Thống kê truy cập
Lượt truy cập hôm nay:    330
Lượt truy cập hôm qua:    4989
Lượt truy cập   2715334