
1.
Quyền hạn chế quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu
a. Quyền giám sát việc quản lý và sử dụng tài sản thế chấp
Hình thức thế chấp được đặc trưng bởi việc tài sản thế chấp vẫn nằm trong tay
người thế chấp, và người này có quyền quản lý, sử dụng, khai thác tài sản và
hưởng lợi từ việc khai thác đó như thể là tài sản chưa bị ràng buộc bởi bất cứ
nghĩa vụ nào. Tuy nhiên, luật cũng quy định, một cách dứt khoát, về thái độ cần
phải có của chủ sở hữu khi quản lý, sử dụng tài sản thế chấp, rằng, không được
để cho tài sản bị xuống cấp, giảm sút giá trị. Người nhận thế chấp có quyền yêu
cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp hoặc
trực tiếp xem, kiểm tra tài sản thế chấp (điều 351 Bộ luật dân sự).
Trường hợp việc khai thác công dụng của tài sản thế chấp mà dẫn tới nguy cơ làm
cho tài sản đó bị giảm sút giá trị, thì, người thế chấp phải ngừng việc khai
thác (điều 348 Bộ luật dân sự). Trong trường hợp tài sản thế chấp đang cho
thuê, cho mượn theo Khoản 5 Điều 349 Bộ luật dân sự, người nhận thế chấp có
quyền yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp phải chấm dứt việc sử dụng mà
không cần thông qua người thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất hoặc giảm sút giá
trị của tài sản thế chấp (điều 351 Bộ luật dân sự).
b. Quyền kiểm soát việc chuyển nhượng tài sản thế chấp
Người thế chấp có thế chuyển nhượng, có đền bù (bán, trao đổi) hoặc không có
đền bù (tặng cho), tài sản thế chấp. Thế nhưng, việc chuyển nhượng này phải
nhận được sự chấp thuận của người nhận thế chấp. Công cụ mà các nhà làm luật
Việt-nam dự định trao cho người nhận thế chấp nhằm bảo vệ quyền của người này
là quyền đòi lại tài sản thế chấp trong trường hợp (i) người thế chấp chuyển
nhượng tài sản thế chấp mà không có sự chấp thuận của người nhận thế chấp; và
(ii) nếu việc thế chấp đã được đăng ký trước thời điểm mua bán, trao đổi, tặng
cho (Điều 28, dự thảo 8 Nghị định về giao dịch bảo đảm, ngày 9 tháng 6 năm
2006).
Ta biết rằng, theo điều 256 Bộ luật dân sự, quyền đòi lại tài sản được trao cho
người chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp tài sản nhằm bảo vệ quyền của họ
đối với tài sản. Người nhận thế chấp, chắc chắn, không thể mang tư cách của
người chủ sở hữu khi đứng trước tài sản thế chấp, bởi việc thế chấp không phải
là căn cứ chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp của người thế chấp tài
sản. Câu hỏi còn lại: vậy người nhận thế chấp là người chiếm hữu tài sản thế
chấp?
Theo điều 182 Bộ luật dân sự, quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài
sản. Việc thế chấp không dẫn tới việc người có nghĩa vụ cần bảo đảm (người thế
chấp) giao tài sản thế chấp cho người nhận bảo đảm (người nhận thế chấp). Như
vậy, người nhận thế chấp chưa bao giờ có cơ hội “nắm giữ” tài sản thế chấp theo
nghĩa của Điều 182 đã dẫn. Bên cạnh đó, như đã phân tích tại phần trên, người
nhận thế chấp chỉ có quyền giám sát việc quản lý, khai thác tài sản của người
thế chấp đối với tài sản thế chấp, chứ không có quyền quản lý tài sản thế chấp.
Hơn nữa, thế chấp tài sản không phải là một trong các căn cứ chiếm hữu tài sản
được liệt kê tại điều 183 Bộ luật dân sự. Như vậy, ta thấy rằng, chưa tìm thấy
căn cứ nào từ các điều luật hiện hành để có thế nói rằng người nhận thế chấp
tài sản là người chiếm hữu tài sản thế chấp.
Không phải là chủ sở hữu, cũng không phải là người chiếm hữu tài sản thế chấp,
thế nhưng, người nhận thế chấp lại được trao cho quyền đòi lại tài sản thế
chấp. Rõ ràng, ta không tìm thấy căn cứ chắc chắn cho giải pháp này. Và, có vẻ
như giải pháp này đã được các nhà làm luật đưa ra hơi vội vàng mà chưa có đủ
một sự cân nhắc cần thiết.
Không giống Việt
2. Quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp
Một khi đã đến hạn, nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện, hoặc thực hiện
không đúng, người nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Việc
xử lý có thể theo như thoả thuận của các bên hoặc trong trường hợp các bên
không thoả thuận thì tài sản sẽ được đem bán đấu giá. Trong thời gian chờ hoàn
thành các thủ tục để tiến hành xử lý tài sản, người nhận thế chấp có quyền khai
thác, sử dụng tài sản thế chấp. Hoa lợi, lợi tức có được từ việc khai thác tài
sản thế chấp sẽ được dùng để thanh toán nghĩa vụ (Điều 78, dự thảo 8 Nghị định
về giao dịch bảo đảm).
2.
Mọi vấn đề cần trao đổi liên quan đến các thông
tin nói trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với công ty luật Brandco để
được biết thêm chi tiết.
---------------------------
Công
ty Luật Brandco
Số 1201,
Tòa nhà N2D, Khu đô thị Trung hòa – Nhân Chính, Hà
Nội, Việt Nam
Tel: (844) 3556 3488 – 3556 3498 - Fax: (844) 3556 3489 (máy lẻ
208)
Hotline: 090.228.4446 – 093.608.4646 - Email : brandcovn@gmail.com
- care@brandco.vn
WEBSITE:
www.camnangphapluat.com
- www.brandco.vn
www.congtyluat.org – www.luatsuviet.org
– www.camnangphapluat.vn
– www.thanhlapdoanhgnhiep.org
- www.vanphongluatsu.org
- www.chuyennhuongduan.net
- www.luatsutuvan.org
- www.hopdong.info - www.phapluat.biz – www.phapluatonline.net
- www.vietnamlawfirm.net



Luật sư tư vấn thuế
Luật sư tư vấn