Luật sư Nguyễn Văn Thi trả lời phỏng vấn về việc nộp thuế nhà thầu của Google và Facebook tại Việt nam
BRANDCO LAW FIRM - Thời gian gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng như VTV1 và một số báo chí trong nước đưa tin về vấn đề thuế đối với các nhà mạng nước ngoài như Google hay facebook có rất nhiều hoạt động quảng cáo có phát sinh lợi nhuận từ các người dùng internet trên lãnh thổ Việt nam mà nhà nước không thu được thuế của họ. Để rộng đường dư luận và làm rõ thông tin nói trên ở góc độ pháp lý, Kênh truyền hình VITV (VTC8) đã có bài phỏng vấn Luật sư Nguyễn Văn Thi – Giám đốc Công ty Luật TNHH Brandco về vấn đề trên. Chúng tôi xin lược trích một số quan điểm trả lời phỏng vấn của Luật sư Nguyễn Văn Thi để các bạn cùng tham vấn.

Câu hỏi thứ nhất: Thưa ông, thời gian gần đây, trên nhiều trang báo có đưa tin về việc các trang mạng xã hội tại Việt Nam như Facebook, Google… Mặc dù đã thu được rất nhiều lợi nhuận từ hoạt động quảng cáo tạo Việt Nam nhưng lại không phải nộp thuế, ông có ý kiến gì về thông tin này?

            Đây là một sự việc thực tế và nó đã diễn ra từ nhiều năm nay. Tuy nhiên theo quan điểm cá nhân của tôi thì không phải các doanh nghiệp nước ngoài có lợi nhuận phát sinh trên lãnh thổ Việt nam không phải nộp thuế mà do Việt nam chúng ta chưa có giải pháp tiến hành thu thuế đối với các đối tượng nói trên.

Hiện nay chúng ta có Thông tư 134/2008/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành ngày 31/12/2008 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại việt nam hoặc có thu nhập tại Việt nam. Theo đó: các doanh nghiệp, tổ chức có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại việt nam (không bao gồm các doanh nghiệp theo luật đầu tư, luật tổ chức tín dụng, luật dầu khí) có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết với các doanh nghiệp việt nam phải nộp thuế theo quy định của pháp luật việt nam, cụ thể:

-         Thuế VAT và

-         Thuế Thu nhập doanh nghiệp;

Tuy nhiên do chưa có quy định cụ thể và giải pháp cho vấn đề thu thuế nói trên nên hiện nay chúng ta chưa thu được các khoản thuế này từ các doanh nghiệp nước ngoài như google hay facebook … khi họ có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ việt nam.

 Điều này gây ra rất nhiều hệ lụy không tốt, cụ thể:

1. Nhà nước không thu được thuế từ hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp tại Việt nam;

2. Các doanh nghiệp mua quảng cáo trên Google hay Facebook không thông qua các đại lý của Google hoặc các khách hàng quảng cáo của facebook mặc dù có các chi phí thực tế nhưng họ không được phía Google hay Facebook xuất hóa đơn, do đó các khoản chi này không được ghi nhận, không được phép hạch toán như một khoản chi phí hợp lệ. Vậy nên thiệt hại mà doanh nghiệp Việt Nam phải chịu là 10% thuế VAT + 25% thuế thu nhập donh nghiệp.

3. Để hợp lý hóa các chi phí đó, các doanh nghiệp nhỏ lẻ đi tìm kiếm hóa đơn “hợp lệ” trên thị trường, để hợp thức hóa chi phí của họ đã trả bằng thẻ tín dụng cho Google và Facebook, tạo điều kiện cho sự không minh bạch trong quản lý tài chính.

Như vậy, chỉ với cùng một quan hệ giao dịch đã gây thiệt hại cho cả ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam.

 

Câu hỏi thứ hai: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nghĩa vụ thuế của các nhà đầu tư nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam mà có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nói chung và nghĩa vụ thuế của Facebook, Google nói riêng được quy định như thế nào? Việc các trang mạng xã hội như facebook hay google … không đóng thuế là đã làm sai so với quy định không?

  Theo quy định tại Thông tư 134/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam, thì thuế nhà thầu nói chung sẽ áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài kinh doanh, có hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam khi họ kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa họ với tổ chức, cá nhân Việt Nam.

Google và Facebook là những tổ chức nước ngoài, không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa họ với tổ chức, cá nhân Việt Nam nên họ thuộc đối tượng chịu sự điều chỉnh của thuế nhà thầu theo quy định của pháp luật Việt Nam.

 Việc Facebook hay Google không đóng thuế có vi phạm nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước Việt Nam hay không hiện còn nhiều quan điểm trái chiều nhưng cá nhân tôi cho rằng, với những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đã tạo khoảng trống cho Facebook hay Google chưa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình đối với nhà nước và người dân Việt nam.

 Theo ông, vì sao họ lại thực hiện được việc này?

1.     Lĩnh vực hoạt động phát sinh lợi nhuận của họ là một lĩnh vực mới không phải chỉ với Việt nam mà là lĩnh vực mới đối với pháp luật các nước trên thế giới;

 2.     Bên cạnh đó, do các tổ chức này chưa có hiện diện thương mại tại Việt Nam nên chúng ta cũng chưa giành sự quan tâm cần thiết cho hoạt động của họ từ góc độ pháp lý;

 3.     Các khoản doanh thu, lợi nhuận của họ được chuyển về nước thông qua hệ thống thanh toán quốc tế: chuyển khoản qua thẻ Visa card hoặc Master card hoặc các hình thức thanh toán quốc tế khác: cũng là những lĩnh vực khoa học, công nghệ rất mới so với Việt nam;

4.     Thứ tư, đó là do sự yếu kém về trình độ khoa học - công nghệ của các cơ quan quản lý nhà nước chúng ta trong lĩnh vực quản lý thuế NÊN CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐÃ BỎ LỌT NGHĨA VỤ THUẾ CỦA HỌ;

 5.     Chúng ta chưa có một cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng liên quan để có những góp ý, giải pháp kịp thời giữa hệ thống lập pháp; hành pháp; hệ thống tài chính… trong xây dựng, quản lý hệ thống thuế.

            Với các lẽ đó đến nay, các cơ quan thuế Việt Nam chưa có một giải pháp cụ thể nào để có thể quản lý và kiểm soát được số thu nhập phát sinh tại Việt Nam của các tổ chức này là bao nhiêu, do vậy, cũng không có cơ sở để tính thuế.

  

Câu hỏi thứ ba: Có ý kiến cho rằng, theo quy định hiện nay, các DN Việt Nam khi tham gia vào cùng ngành nghề, lĩnh vực, thì việc quảng cáo bị quảng lý rất chặt chẽ, => trong khi đó thì các mạng nước ngoài lại vô tư quảng cáo, không bị đánh thuế, điều này gây ra những bất công cho các doanh nghiệp Việt Nam => nhiều doanh nghiệp đã phải rời bỏ cuộc chơi. Trong khi đó thì nhà nước bị thất thu một khoản thuế khá lớn hàng năm. Ông có đồng tình với ý kiến này không và vì sao?

       Rõ ràng hiện nay, chúng ta đang có những lỗ hổng lớn về mặt kỹ thuật và pháp lý đối với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo trên hệ thống mạng thông tin toàn cầu.

 

      Chúng ta điều biết hoạt động quảng cáo là hoạt động tạo dựng thương hiệu và nó liên quan trực tiếp đến tâm lý, tư duy của người tiêu dùng, nhiều trường hợp nó còn định hướng tiêu dùng.

      Vì vậy, để đảm bảo thuần phong mỹ tục, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh nên hoạt động  quảng cáo bị quản lý rất chặt chẽ với các quy định cụ thể như hành vi bị cấm trong quảng cáo, giới hạn diện tích quảng cáo, hạn chế với quảng cáo bia, rượu, sữa trẻ em, cấp phép quảng cáo, … quy định trong Pháp lệnh Quảng cáo 2001, Nghị định 24/2003/NĐ-CP hướng dẫn pháp lệnh Quảng cáo,… Những quy định cụ thể, chặt chẽ này có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động cung cấp dịch vụ và lợi nhuận của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước.

       Nhưng rõ ràng, các nhà mạng nước ngoài – khi họ không có trụ sở hoặc đại diện tại Việt nam thì họ được rất nhiều cái không:

-         Thứ nhất, không phải thực hiện các thủ tục đăng ký hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo và vì

-          Không là doanh nghiệp tại Việt nam nên họ không phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt nam trong lĩnh vực quảng cáo.

Chúng ta thấy rằng trên trang mạng xã hội Facebook, bất kỳ doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức nào muốn đều có thể đăng các quảng cáo dưới hình thức banner và hiển thị liên tục trên mạng Facebook. Họ có thể đăng những quảng cáo có nội dung dành cho người trưởng thành (Adult), quảng cáo các sản phẩm bị cấm hoặc bị kiểm soát ở Việt Nam, đăng các quảng cáo về những sản phẩm trí tuệ như trò chơi, ứng dụng, chia sẻ dữ liệu, kinh doanh.

-         Vì họ là các doanh nghiệp trong lĩnh vực không gian số, họ lại không bị giới hạn các đối tượng khách hàng ở cả không gian, thời gian, đối tượng…

      Tóm lại là họ quảng cáo được một cách dễ dàng, hầu như không chịu bất cứ sự quản lý nào về nội dung và hình thức quảng cáo.

 

      Như vậy rõ ràng là không công bằng trong sân chơi của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước và nước ngoài. Tôi kiến nghị các cơ quan chức năng có ngay các giải pháp thực tế để đem lại sự công bằng cho các chủ thể trong sân chơi đó bằng các biện pháp kỹ thuật trong khuôn khổ pháp luật góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành manh giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực.

 

 Câu hỏi thứ tư: Theo ông chúng ta cần nên có những biện pháp gì để truy thu thuế từ hoạt động của các trang mạng xã hội quốc tế tại Việt Nam, nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp Nước ngoài và DN Việt Nam trong cùng lĩnh vực, cũng như tránh thất thu thuế cho nhà nước?


Nhằm đảm bảo nhà nước có thể thu thuế từ các doanh nghiệp nước ngoài khi có hoạt động kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa họ với tổ chức, cá nhân Việt Nam, cũng như để tạo ra một sân chơi lành mạnh, công bằng trong lĩnh vực quảng cáo trên mạng  thông tin toàn cầu, tôi nghĩ chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

-         Thứ nhất, Kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực thuế theo hướng quy định rõ và có hướng dẫn cụ thể về thuế suất và phương pháp tính thuế cụ thể trong trường hợp này.

-         Thứ hai, Áp dụng các giải pháp kỹ thuật để kiểm soát và yêu cầu thực hiện đúng các quy định pháp luật về quảng cáo của Việt nam đối với các doanh nghiệp nước ngoài thực hiện hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt nam có đối tượng sử dụng là người sử dụng Việt nam;

-         Thứ ba, Xây dựng một cơ chế phối hợp minh bạch và phân quyền cụ thể giữa Tổng cục Thuế - Bộ tài chính và Ngân hàng nhà nước Việt Nam để xây dựng và góp ý cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền một giải pháp kỹ thuật  nhằm xác định cụ thể mức thu nhập phát sinh tại Việt Nam của các tổ chức nước ngoài thông qua các giao dịch trả bằng thẻ thanh toán quốc tế cho các dịch vụ do tổ chức nước ngoài cung cấp.

-         Xây dựng và củng cố hoạt động của các bộ phận tham mưu trực thuộc các cơ quan tài chính, thuế để  kịp thời phát hiện các kẽ hở và đưa ra ý kiến về đối tượng nộp thuế cho cơ quan quản lý nhà nước để không bỏ lọt đối tượng nộp thuế.

 

Phòng dịch vụ pháp lý - Công ty Luật TNHH Brandco.

 

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Tư vấn Luật Brandco để được hướng dẫn chi tiết. 

----------------------------

VAN PHONG CHINH

Dia chi:  So 1201 - Toa nha N2D - Khu Do thi Trung Hoa - Nhan Chinh  - Ha Noi
Dien thoai: 043. 556 34 88 - 043. 556 34 89 - Fax: 043. 556 34 89 (May le 208)
Website:     www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com.
Email:        brandcovn@gmail.com - care@brandco.vn

CHI NHANH HAI PHONG

Dia chi:  So 180 - Pho Lung Dong - quan Hai An - thanh pho Hai phong
Dien thoai:     (84031) 3804242 - hotline: 090.228.4446
Website:   www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com
Email:      brandcohp@gmail.com - brandcovn@gmail.com

WEBSITE: www.camnangphapluat.com  - www.brandco.vnwww.congtyluat.orgwww.luatsuviet.orgwww.camnangphapluat.vn – www.thanhlapdoanhgnhiep.org - www.vanphongluatsu.org - www.chuyennhuongduan.net - www.luatsutuvan.org - www.hopdong.info - www.phapluat.biz – www.phapluatonline.net - www.vietnamlawfirm.net.