
1.
Đối tượng của giao dịch bảo đảm
Đối
tượng của giao dịch bảo đảm theo Bộ luật dân sự: điều 322 của Bộ luật dân
sự công nhận quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp là một loại
quyền tài sản được phép dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy
định chung của pháp luật thực định, thế chấp là giao dịch bảo đảm được áp dụng
đối với các quyền tài sản bởi hai lý do chính. Một là, quyền tài sản nói chung
là các tài sản vô hình và do đó không thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên
nhận bảo đảm nên không thể là đối tượng của cầm cố. Hai là, trong giao dịch bảo
đảm có đối tượng là quyền tài sản, bên thế chấp chỉ giao giấy tờ chứng minh
quyền sở hữu của bên thế chấp đối với tài sản cho bên nhận thế chấp và trong
quá trình thế chấp, bên thế chấp vẫn « nắm giữ » tài sản thế chấp[2] và được
thực hiện một số quyền của chủ sở hữu đối với quyền tài sản[3]. Tuy vậy chính
việc điều 322 của Bộ luật dân sự quy định về giao dịch bảo đảm có đối tượng là
quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp lại dẫn đến khó khăn
trong việc áp dụng chế định này bởi tính chất khá chung chung của khái niệm quyền
tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp. Có thể hiểu quyền tài sản
đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp gồm các quyền mà thành viên góp vốn có
được sau khi thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp được quy định tại điều 41
của Luật doanh nghiệp (quyền biểu quyết thông qua các quyết định của công ty,
quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn,…). Tuy nhiên khi
nhận thế chấp, sẽ chắc chắn hơn đối với ngân hàng khi nhận phần vốn góp tức là
nhận thế chấp tài sản góp vốn của một thành viên góp vốn nhất định như tiền
Việt Nam, quyền sử dụng đất, ngoại tệ tự do chuyển đổi[4]…hơn là nhận các quyền
của thành viên góp vốn vì pháp luật doanh nghiệp không quy định việc định đoạt
quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy định việc định đoạt phần vốn góp.
Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Luật doanh nghiệp
: khác với quy định của Bộ luật dân sự, điều 140 của Luật doanh nghiệp khi
quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn cho phép thành viên góp
vốn của công ty hợp danh được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách thế
chấp, cầm cố[5]. Tức là Luật doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch bảo đảm
đối với phần vốn góp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp không nêu rõ việc thành viên
góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền cầm cố hay thế chấp đối với
phần góp vốn của mình hay không (điểm h khoản 1 điều 41) như trong trường hợp
công ty hợp danh (điểm e, khoản 1 điều 140). Tuy điểm h khoản 1 điều 41 quy định
mở là « thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có thể định đoạt
phần vốn góp của mình bằng cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ
của công ty » nhưng thật khó có thể hình dung giá trị pháp lý của việc thế
chấp phần vốn góp nếu chỉ được quy định trong điều lệ của công ty ! Không hiểu
vì lý do gì mà nhà làm luật đã bỏ quên quyền của thành viên công ty trách nhiệm
hữu hạn được sử dụng phần vốn góp của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong
khi nếu được thực hiện quyền này có thể giúp cho thành viên góp vốn huy động
được nguồn tín dụng hữu ích.
Hướng
tiếp cận nào ? Theo quan điểm của tác giả, Bộ luật dân sự nên thay khái
niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp bằng khái niệm phần
vốn góp và Luật doanh nghiệp nên cho phép thực hiện việc thế chấp phần vốn góp
trong công ty trách nhiệm hữu hạn vì các lý do sau đây :
-
Về bản chất phần vốn góp được phân tích là một quyền chủ nợ của thành viên góp
vốn đối với công ty cho nên tự thân nó là một quyền tài sản có thể trở thành
đối tượng của giao dịch bảo đảm.
-
Điều 140 của Luật doanh nghiệp đã chính thức công nhận việc thế chấp phần vốn
góp trong công ty hợp danh, không có lý do gì mà không công nhận việc thế chấp
phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn.
-
Pháp luật doanh nghiệp công nhận một cách rộng rãi việc định đoạt phần vốn góp
trong công ty trách nhiệm hữu hạn đặc biệt thông qua việc chuyển nhượng phần
vốn góp[6] và thông qua việc sử dụng phần vốn góp để trả nợ[7], tức là công
nhận phần vốn góp là một loại tài sản có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự
nên việc thế chấp phần vốn góp sẽ vẫn tuân thủ chung tinh thần của Luật doanh
nghiệp[8].
2.
Một số rủi ro của việc nhận thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu
hạn
Nhìn
chung, các hệ quả pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp tương đối phức tạp.
Tuy vậy, chừng nào chưa tiến hành xử lý tài sản bảo đảm, bên bảo đảm vẫn là bên
duy nhất được thực hiện đầy đủ các quyền của một thành viên góp vốn theo quy
định của pháp luật doanh nghiệp. Chẳng hạn, bên bảo đảm vẫn được thực hiện
quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên với số
phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp [9] hay vẫn được chia lợi nhuận
tương ứng với phần vốn góp. Về phần mình trong thời gian này, bên nhận thế chấp
có thể đứng trước một số rủi ro nhất định.
Rủi
ro liên quan đến việc sụt giảm giá trị của phần vốn góp : một rủi ro mà
chúng ta có thể nghĩ ngay đến là việc giá trị phần vốn góp được thế chấp bị
giảm sút do việc quản lý công ty không tốt hay trong tình huống xấu hơn do động
cơ xấu của bên bảo đảm vì bên bảo đảm vẫn thực hiện quyền biểu quyết nên vẫn
tham gia vào việc quản lý công ty. Giải pháp cho ngân hàng trong trường hợp này
là cấp cho bên nhận thế chấp một khoản tín dụng có giá trị thấp hơn giá trị
phần vốn góp trên cơ sở tính đến hệ số rủi ro này hoặc quy định trong hợp đồng
thế chấp là bên thế chấp phải bổ sung tài sản góp vốn trong trường hợp giảm giá
trị phần vốn góp đã thế chấp hoặc là trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức
đến hạn thanh toán (acceleration clause).
Rủi
ro liên quan đến việc thay đổi phần vốn góp : một rủi ro khác đối với bên
nhận thế chấp là việc phần vốn góp thế chấp biến mất do việc công ty giảm cố ý
vốn điều lệ nhằm làm vô hiệu hóa giao dịch thế chấp vì tài sản thế chấp không
còn sau đó lại thực hiện tăng vốn điều lệ. Có thể quy định trong hợp đồng là
trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán nếu bên thế chấp
không bổ sung tài sản thế chấp khác hoặc quy định phần vốn góp mới của bên thế chấp
vào công ty sẽ tự động trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp.
3.
Một số gợi ý cụ thể hoàn thiện pháp luật về thế chấp phần vốn góp trong công ty
trách nhiệm hữu hạn
Nhìn
chung, pháp luật thực định còn rất thiếu các quy định về thế chấp phần vốn góp
cả ở trên phương diện xác lập hợp đồng thế chấp lẫn xử lý tài sản thế chấp vì
ngoài một vài quy định mang tính nguyên tắc như trình bày ở trên, không có quy
định nào của Bộ luật dân sự, Nghị định 163 hay Luật doanh nghiệp và các văn bản
hướng dẫn thi hành đề cập đến biện pháp bảo đảm này. Có lẽ đây cũng chính là
nguyên nhân của việc các ngân hàng hiện nay thường do dự hay không chấp nhận biện
pháp bảo đảm này dù pháp luật không cấm. Xin nêu một số gợi ý sửa đổi, bổ sung
quy định của pháp luật thực định như sau :
-
Thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn phải được quy định
trong Bộ luật dân sự (công nhận việc thế chấp phần vốn góp với tư cách là thế
chấp một quyền tài sản) và trong Luật doanh nghiệp (đối với các vấn đề cụ thể
của chế định này, đặc biệt là việc chấp thuận bên nhận thế chấp với tư cách là
thành viên công ty thay cho bên thế chấp trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
và việc chuyển nhượng phần vốn góp cho bên thứ ba).
-
Cần thống nhất cách gọi loại hình giao dịch bảo đảm này theo hướng công nhận
đây là một trong các biện pháp thế chấp để thống nhất với cách gọi tên cách
giao dịch bảo đảm đối với các quyền tài sản nói chung. Hơn nữa không thể cầm cố
phần vốn góp vì ở đây không có sự chuyển giao phần vốn góp vì như đã phân tích
ở trên trong thời hạn có hiệu lực của giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vẫn được
thực hiện đầy đủ các quyền của thành viên góp vốn.
-
Nên công nhận cả việc thế chấp phần vốn góp hình thành trong tương lai : theo
quy định tại điều 342 của Bộ luật dân sự, tài sản thế chấp có thể là tài sản
hình thành trong tương lai. Pháp luật doanh nghiệp cho phép công ty trách nhiệm
hữu hạn có thể thực hiện việc tăng vốn điều lệ[10], tức là luôn có khả năng
thành viên góp vốn sẽ được phân chia số vốn góp thêm. Do đó về nguyên tắc, có
thể thế chấp cả phần tài sản hình thành trong tương lai này.
-
Thiết lập các quy định về việc chấp thuận giao dịch thế chấp phần vốn góp :
theo quy định của Luật doanh nghiệp khi chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho
người khác, thành viên góp vốn phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn
lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều
kiện và chỉ được chuyển nhượng cho người khác không phải là thành viên nếu các
thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày chào bán[11]. Hơn nữa trong trường hợp thành viên sử dụng phần vốn
góp để trả nợ thì người nhận thanh toán chỉ được trở thành thành viên của công
ty nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, nếu không sẽ bắt buộc phải chào
bán phần vốn góp đó[12]. Có thể thấy tinh thần của Luật doanh nghiệp là hạn chế
sự xuất hiện của thành viên mới trong công ty và tôn trọng quyết định chấp
thuận hay không chấp thuận thành viên mới của các thành viên còn lại. Để tránh
xung đột với các quy định này, nên quy định trong trường hợp xử lý tài sản thế
chấp là bên nhận thế chấp chỉ có thể trở thành thành viên của công ty thay cho
bên thế chấp nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, và nếu không được chấp
thuận thì sẽ có quyền chào bán phần vốn góp. Việc chấp thuận bên nhận thế chấp
có thể diễn ra ngay trong giai đoạn xác lập hợp đồng thế chấp thông qua việc
gửi dự thảo hợp đồng thế chấp đến công ty để các thành viên trong Hội đồng
thành viên xem xét quyết định và trong trường hợp này khi xử lý tài sản bảo đảm
không cần thiết phải xin chấp thuận bên nhận thế chấp như một thành viên thay
thế bên thế chấp trong công ty. Các ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp
khi xử lý tài sản thế chấp sẽ có xu hướng chuyển nhượng phần vốn góp hơn là trở
thành thành viên công ty. Quyền chủ động bán tài sản của ngân hàng (tìm đối
tác, quyết định giá và phương thức bán…) cần được tôn trọng. Cũng cần lưu ý
thêm rằng hiện nay theo quy định tại khoản 2, điều 70, Nghị định 163, trong
trường hợp pháp luật quy định việc chuyển quyền sở hữu tài sản phải có sự đồng
ý bằng văn bản của chủ sở hữu, thì hợp đồng thế chấp tài sản được dùng để thay
thế giấy tờ đó, tức là nếu trong trường hợp bên nhận thế chấp bán phần vốn góp
cho bên thứ ba, để bên mua có thể được đăng ký trở thành viên công ty, hợp đồng
thế chấp có thể được xem là bằng chứng về việc bên thế chấp đã đồng ý cho việc
chuyển quyền sở hữu sang bên thứ ba này.
Có
thể thấy hiện nay quy định về giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp còn chưa
rõ ràng và đầy đủ. Đây là một điều đáng tiếc bởi vì thế chấp phần vốn góp trong
công ty trách nhiệm hữu hạn có chi phí thấp và hơn nữa phần vốn góp có thể là
tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của thành viên góp vốn là bên đi
vay ngân hàng nên vô tình chúng ta đang lãng phí loại hình tài sản thế chấp này.
Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các
vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Tư vấn Luật Brandco để được hướng
dẫn chi tiết.
----------------------------
VAN PHONG CHINH
Dia chi: So 1201 - Toa nha N2D -
Khu Do thi Trung Hoa - Nhan Chinh - Ha Noi
Dien thoai: 043. 556 34 88 - 043. 556 34 89 - Fax: 043. 556 34 89 (May le
208)
Website: www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com.
Email: brandcovn@gmail.com
- care@brandco.vn
CHI NHANH HAI PHONG
Dia chi: So 180 - Pho Lung Dong
- quan Hai An - thanh pho Hai phong
Dien thoai: (84031) 3804242 - hotline: 090.228.4446
Website: www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com
Email: brandcohp@gmail.com - brandcovn@gmail.com
WEBSITE: www.camnangphapluat.com - www.brandco.vnwww.congtyluat.org – www.luatsuviet.org – www.camnangphapluat.vn – www.thanhlapdoanhgnhiep.org -
www.vanphongluatsu.org - www.chuyennhuongduan.net - www.luatsutuvan.org -
www.hopdong.info - www.phapluat.biz – www.phapluatonline.net - www.vietnamlawfirm.net



Luật sư tư vấn thuế
Luật sư tư vấn