Nội dung cơ bản của Nghị định số 121/2011/NĐ-CP quy định về thuế giá trị gia tăng
BRANDCO LAWFIRM - Luật Thuế Giá trị gia tăng năm 2008 ra đời đã góp phần khắc phục những hạn chế của Luật Thuế Giá trị gia tăng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003, 2005), tạo cơ sở pháp lý vững chắc để ổn định nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, chống gian lận, trốn lậu thuế ở các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, sau hơn ba năm thực hiện, Luật thuế Giá trị gia tăng cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã nảy sinh nhiều bất cập, ít nhiều gây khó khăn, trở ngại trong quá trình triển khai áp dụng Luật trên thực tế, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành nhiều lúc còn mâu thuẫn với Luật, đòi hỏi cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Trước thực tế này, ngày 27/12/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 121/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.

Là đơn vị tư vấn chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, Công ty Luật TNHH Brandco gửi đến quý khách hàng một số điểm mới đáng lưu ý và những thay đổi cần thiết nhằm đảm bảo cho Luật Thuế giá trị gia tăng thực thi có hiệu quả trên thực tế được quy định tại Nghị định số 121/2011/NĐ-CP.

1. Về người nộp thuế

Người nộp thuế là những tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP lại quy định thêm một số dịch vụ phát sinh ở nước ngoài không phải nộp thuế giá trị gia tăng. Điều này dẫn tới nhầm lẫn và không rõ ràng giữa người nộp thuế và đối tượng không phải nộp thuế. Do vậy khoản 2 Điều 2 Nghị định đã được sửa đổi theo hướng loại bỏ các quy định về đối tượng không phải nộp thuế giá trị gia tăng.

Đồng thời, Nghị định bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 2 quy định về các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng bao gồm:

a) Hàng hóa, dịch vụ do đối tượng nộp thuế tại Việt Nam cung cấp ở ngoài Việt Nam, trừ hoạt động vận tải quốc tế mà chặng vận chuyển quốc tế có điểm đi và đến ở nước ngoài.

Trường hợp cung cấp dịch vụ mà hoạt động cung cấp vừa diễn ra tại Việt Nam, vừa diễn ra ở nước ngoài nhưng hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa 02 (hai) doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế tại Việt Nam hoặc có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì dịch vụ này phải chịu thuế giá trị gia tăng đối với phần giá trị hợp đồng thực hiện tại Việt Nam, trừ trường hợp cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa nhập khẩu.

b) Các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.

c) Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam như: sửa chữa phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị (bao gồm cả vật tư, phụ tùng thay thế); quảng cáo, tiếp thị; xúc tiến đầu tư và thương mại; môi giới bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; đào tạo; chia cước dịch vụ bưu chính, viễn thông quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài mà các dịch vụ này được thực hiện ở ngoài Việt Nam.

d) Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng thì không phải kê khai, tính thuế giá trị gia tăng khi bán tài sản, kể cả trường hợp bán tài sản đang sử dụng để đảm bảo tiền vay tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng.

2. Về đối tượng không chịu thuế

Nhằm khuyến khích tiêu dùng trong một số lĩnh vực, pháp luật thuế giá trị gia tăng quy định một số đối tượng không chịu thuế. Tuy nhiên, việc quy định không cụ thể, bỏ sót một số đối tượng không thuộc diện chịu thuế đã dẫn đến việc áp dụng các quy định này trên thực tế gây nhiều khó khăn cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế, chưa khuyến khích tiêu dùng. Do đó, để khắc phục hạn chế này, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng không chịu thuế. Theo đó:

- Các quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 12 Điều 3 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi và bổ sung;

- Đồng thời, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP bổ sung thêm đối tượng không chịu thuế là dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, dịch vụ tang lễ.

3. Giá tính thuế

Là một trong những căn cứ để tính thuế giá trị gia tăng, giá tính thuế cần phải được quy định cụ thể, thống nhất để người nộp thuế và cơ quan thuế hiểu đúng, thực hiện đầy đủ. Tuy vậy, với quy định tại Điều 4 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP, giá tính thuế còn nhiều điểm chưa hợp lý. Do vậy, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, khoản 3 và bổ sung thêm khoản 7 Điều 4, theo đó, giá tính thuế đối với hoạt động cung ứng dịch vụ vừa thực hiện tại Việt Nam vừa thực hiện ở nước ngoài đã được xác định cụ thể là phần giá trị dịch vụ thực hiện tại Việt Nam quy định trong hợp đồng cung cấp dịch vụ. Trường hợp, hợp đồng không xác định riêng phần giá trị dịch vụ thực hiện tại Việt Nam thì giá tính thuế được xác định theo tỷ lệ (%) chi phí phát sinh tại Việt Nam trên tổng chi phí.

Điểm đáng chú ý trong quy định mới về giá tính thuế là việc xác định giá tính thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản. Theo quy định cũ, việc xác định giá đất thực tế tại thời điểm chuyển nhượng sẽ rất khó khăn, tách bạch giữa giá trị của cơ sở hạ tầng, nhà cửa trên đất và giá đất được tăng theo cơ sở hạ tầng. Đồng thời, việc chuyển quyền sử dụng đất không chịu thuế giá trị gia tăng trên giá đất, nhưng do giá thực tế chuyển nhượng cao hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định nên đã có trường hợp thu thuế giá trị gia tăng trên giá khoản chênh lệch giá chuyển quyền sử dụng đất thực tế và giá do UBND tỉnh, thành phố quy định.

Khắc phục hạn chế trên, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP đã quy định cụ thể việc xác định giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng trong từng trường hợp, tạo cơ sở để các cơ quan thuế và người nộp thuế xác định đúng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình.

4. Thuế suất

Nhằm khuyến khích các hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế… pháp luật quy định mức thuế suất áp dụng cho các đối tượng này là 0%. Tuy vậy, việc quy định mức thuế suất 0% áp dụng cho các đối tượng theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP còn nhiều điểm chưa hợp lý, chẳng hạn như các dịch vụ cung ứng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài không được áp dụng mức thuế 0% chưa được xác định cụ thể; việc liệt kê các điều kiện để hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% là không cần thiết bởi vấn đề này đã được cụ thể hóa tại điểm c Khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng… Để hoàn thiện quy định này, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung các điểm a, b, c và điểm d khoản 1 Điều 6 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP.

5. Về phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng

Thực tế quản lý thuế cho thấy, tuy tổng thu thuế giá trị gia tăng của các chủ thể nộp thuế theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng không lớn nhưng chủ thể nộp thuế theo phương pháp này lại chiếm đa số so với các chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Do đó, để đảm bảo cho hoạt động nộp thuế và thu thuế theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng được thực hiện đầy đủ, chính xác, liên hoàn cần có sự quản lý chặt chẽ từ phía nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật.

Trong phạm vi sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 121/2011/NĐ-CP, quy định về phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng đã được điều chỉnh, theo đó, điểm a khoản 1 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ đó trừ (-) giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng.

Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phụ phí thu thêm mà bên bán được hưởng.

Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế giá trị gia tăng dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng tương ứng.

Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia tăng âm (-) của vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của vàng, bạc, đá quý. Trường hợp không có phát sinh giá trị gia tăng dương (+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm. Kết thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được kết chuyển tiếp sang năm sau”.

Điểm b khoản 2 Điều 8 cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí sẽ không thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng mà thuế giá trị gia tăng sẽ do bên Việt Nam chịu trách nhiệm khấu trừ và nộp thay theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quy định. Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký, khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì số thuế đã nộp theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quy định được trừ vào số thuế phải nộp.

Theo quy định mới, cơ sở kinh doanh vừa có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, vừa có hoạt động chế tác sản phẩm vàng, bạc, đá quý sẽ được áp dụng tính thuế đối với các hoạt động này theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng thay vì vừa áp dụng phương pháp khấu trừ, vừa phải hạch toán riêng để áp dụng theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng như quy định trước đây.

6. Sửa đổi, bổ sung quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

Khấu trừ thuế giá trị gia tăng là một nội dung quan trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động thu, nộp thuế giá trị gia tăng bởi quy định về khấu trừ thuế không chỉ đảm bảo tính liên hoàn, tập trung, kinh tế cao của thuế giá trị gia tăng mà còn góp phần hạn chế tối đa việc các đối tượng nộp thuế lợi dụng cơ chế này nhằm lẩn tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng. Vì vậy, trong lần sửa đổi, bổ sung này, Nghị định 121/2011/NĐ-CP đã tập trung điều chỉnh lại nội dung hướng dẫn thi hành về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Cụ thể:

- Bổ sung thuế giá trị gia tăng đầu vào không được bồi thường của hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng bị tổn thất thuộc đối tượng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào;

- Sửa đổi quy định về xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào của các tài sản cố định của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, các bệnh viện, trường học không được khấu trừ. Theo đó, thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố định, máy móc, thiết bị của các tổ chức này sẽ không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định thay vì định nghĩa tài sản cố định là nhà làm trụ sở văn phòng và các thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động của các tổ chức trên theo hướng dẫn của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP;

- Quy định về kê khai, khấu trừ thuế tại điểm e khoản 1 Điều 9 đã bổ sung thêm các trường hợp sai sót về số thuế giá trị gia tăng đã nộp khâu nhập khẩu, số thuế giá trị gia tăng đầu vào đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động được khấu trừ và kê khai bổ sung theo quy định của pháp luật về quản lý thuế thay vì thực hiện kê khai, bổ sung trong thời hạn sáu tháng như trước đây;

- Bổ sung thêm quy định về thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không tính thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 121/2011/NĐ-CP được khấu trừ toàn bộ;

- Bổ sung quy định trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc quy định cụ thể một số trường hợp cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào dưới hình thức ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác mà hóa đơn mang tên tổ chức, cá nhân được ủy quyền;

- Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng cho giá trị mua hàng hóa, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệu đồng, nhưng mua nhiều lần cùng ngày có tổng giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thay vì trên 20 triệu đồng như quy định trước đó;

- Cụ thể hóa các quy định về điều kiện đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 9 còn phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+  Có hợp đồng bán, gia công hàng hóa xuất khẩu hoặc ủy thác gia công hàng hóa xuất khẩu, hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan;

+  Có chứng từ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật; đối với hàng hóa xuất khẩu phải có tờ khai hải quan.

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được thanh toán dưới hình thức bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước thì cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng.

Các trường hợp: bên mua nước ngoài mất khả năng thanh toán do lâm vào tình trạng phá sản; hàng hóa xuất khẩu không đảm bảo chất lượng phải tiêu hủy ngay tại cửa khẩu nước nhập và hàng hóa xuất khẩu bị tổn thất do nguyên nhân khách quan trong quá trình vận chuyển ngoài biên giới Việt Nam, phải có chứng từ, giấy tờ xác nhận của bên thứ ba thay thế cho chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng. Giao trách nhiệm cho Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn hồ sơ, chứng từ thay thế cho chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với các trường hợp này.

7. Hoàn thuế giá trị gia tăng

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10, Nghị định 123/2008/NĐ-CP các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cơ sở sản xuất mới thành lập tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên sẽ không được hoàn thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, theo quy định mới tại Nghị định 121/2011/NĐ-CP các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành khi thuộc trường hợp trên sẽ được hoàn thuế giá trị gia tăng.

      Với 16 khoản được sửa đổi, bổ sung, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP đã góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy định hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP, bảo đảm nâng cao hiệu quả trong công tác thu, nộp thuế của các tổ chức, cá nhân cũng như cơ quan quản lý thuế. Ngày 01/3/2011, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, hy vọng với những sửa đổi, bổ sung này, các quy định hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng sẽ có tính khả thi cao hơn và hiệu quả hơn.


Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Tư vấn Luật Brandco để được hướng dẫn chi tiết.

----------------------------

VAN PHONG CHINH

Dia chi:  So 1201 - Toa nha N2D - Khu Do thi Trung Hoa - Nhan Chinh  - Ha Noi
Dien thoai: 043. 556 34 88 - 043. 556 34 89 - Fax: 043. 556 34 89 (May le 208)
Website:     www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com.
Email:        brandcovn@gmail.com - care@brandco.vn

CHI NHANH HAI PHONG

Dia chi:  So 180 - Pho Lung Dong - quan Hai An - thanh pho Hai phong
Dien thoai:     (84031) 3804242 - hotline: 090.228.4446
Website:   www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com
Email:      brandcohp@gmail.com - brandcovn@gmail.com

WEBSITE: www.camnangphapluat.com  - www.brandco.vnwww.congtyluat.orgwww.luatsuviet.orgwww.camnangphapluat.vn – www.thanhlapdoanhgnhiep.org - www.vanphongluatsu.org - www.chuyennhuongduan.net - www.luatsutuvan.org - www.hopdong.info - www.phapluat.biz – www.phapluatonline.net - www.vietnamlawfirm.net

Các loại dịch vụ khác