
Qua
2 năm thực hiện Luật Công chứng, hoạt động công chứng đã từng bước đáp ứng nhu
cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, quá trình
thực hiện Luật đã nảy sinh một số vướng mắc.
Thứ nhất, trường hợp yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc
khai nhận di sản có đồng thừa kế là một số người hiện đang định cư tại nước
ngoài. Người yêu cầu công chứng đã xuất trình các văn bản tặng, cho quyền hưởng
di sản thừa kế, giấy ủy quyền… do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại
nước sở tại chứng thực, hoặc do Công chứng viên của nước sở tại công chứng và
đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài
chỉ chứng nhận chữ ký trên các văn bản này mà không chứng nhận nội dung. Do đó
đã nảy sinh hai luồng ý kiến khác nhau về vấn đề này, dẫn đến việc thực hiện
không thống nhất. Ý kiến thứ nhất cho rằng, căn cứ vào khoản 2 Điều 142 Bộ luật
Dân sự năm 2005 và Điều 16 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành
các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, các văn
bản này phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Ý kiến khác lại yêu cầu
các văn bản này nhất thiết phải được chứng nhận nội dung mới có giá trị sử dụng.
Thứ hai, trường hợp đất của những người đã định cư tại nước ngoài có nguyện vọng
tặng cho con, cháu đang ở Việt Nam, hay chuyển nhượng nhưng chưa có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất
ở theo Nghị định số 60 của Chính phủ; chỉ có giấy tờ theo khoản 1, 2 Điều 50
Luật Đất đai, hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định
của pháp luật về nhà ở qua các thời kỳ, giấy chứng nhận tặng cho, đổi, thanh
lý, hóa giá nhà ở, giấy tờ về thừa kế nhà ở, bản án, quyết định của Tòa án hoặc
quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về sở hữu nhà ở.
Theo quy định của Luật Đất đai và Luật Nhà ở, họ không được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2
Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP “… người sử dụng đất có một trong các loại giấy
tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất
đai vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” –
tức là họ vẫn được thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Tuy nhiên, do cách
hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các cơ quan liên quan nên tại
một số địa phương, hiện vẫn chưa giải quyết được các hồ sơ này.
Thứ ba, hợp đồng thế chấp tài sản của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ của doanh nghiệp
tư nhân mà một trong hai người (vợ hoặc chồng) là chủ doanh nghiệp vẫn chưa có
sự thống nhất trong cách hiểu. Có ý kiến cho rằng, vì vợ chồng (cá nhân) và doanh
nghiệp tư nhân (pháp nhân, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp) là hai chủ thể
khác nhau, mỗi chủ thể có quyền hạn và nghĩa vụ độc lập với nhau. Vì vậy, đây
là việc thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của doanh nghiệp (bên thứ ba). Cũng có ý
kiến cho rằng, doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn, không có sự phân định
giữa tài sản của cá nhân và tài sản của doanh nghiệp nên hai chủ thể này là
một. Vì vậy, đây là việc thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính mình.
Thứ tư, mức thu phí công chứng trong một số trường hợp chưa phù hợp. Theo quy định
tại Thông tư số 91/2008/TTLT-BTC-BTP của liên bộ Tài chính và Tư pháp hướng dẫn
về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng, mức thu đối với
giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch dưới 100.000.000 đồng là 100.000
đồng. Đối với các giao dịch mua bán xe máy cũ, giá trị còn lại của tài sản
thường không lớn nhưng lại phải nộp phí công chứng theo quy định như trên là
quá cao. Hay như các giao dịch, hợp đồng không có giá ngạch cụ thể (thường gặp
là các hợp đồng thuê nhà trong một thời gian dài, thỏa thuận trả tiền thuê nhà
hàng năm theo tỷ giá ngoại tệ hoặc theo giá vàng tại thời điểm thanh toán) thì
không có căn cứ để định mức thu phí công chứng… Vì vậy, cần sớm có sự điều chỉnh,
thống nhất về nội dung các văn bản pháp luật, tạo khung pháp lý hoàn thiện đáp
ứng yêu cầu công chứng trong giai đoạn hiện nay.
(SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ)
Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Tư vấn Luật Brandco để được hướng dẫn chi tiết.
----------------------------
VAN PHONG CHINH
Dia chi: So 1201 - Toa nha N2D - Khu Do thi
Trung Hoa - Nhan Chinh - Ha Noi
Dien thoai: 043. 556 34 88 - 043. 556 34 89 - Fax: 043. 556 34 89 (May le
208)
Website: www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com.
Email: brandcovn@gmail.com
- care@brandco.vn
CHI NHANH HAI PHONG
Dia chi: So 180 - Pho Lung Dong - quan Hai An -
thanh pho Hai phong
Dien thoai: (84031) 3804242 - hotline: 090.228.4446
Website: www.brandco.vn - www.camnangphapluat.com
Email: brandcohp@gmail.com - brandcovn@gmail.com
WEBSITE: www.camnangphapluat.com - www.brandco.vnwww.congtyluat.org – www.luatsuviet.org – www.camnangphapluat.vn – www.thanhlapdoanhgnhiep.org - www.vanphongluatsu.org - www.chuyennhuongduan.net - www.luatsutuvan.org - www.hopdong.info - www.phapluat.biz – www.phapluatonline.net - www.vietnamlawfirm.net



Luật sư tư vấn thuế
Luật sư tư vấn